Giữ Màu Xanh Cù Lao Chàm

Tuy nhiên, phía sau danh xưng “Khu dự trữ sinh quyển thế giới” hay “Khu bảo tồn thiên nhiên Cù Lao Chàm” là những thách thức ngày càng rõ nét, buộc công tác bảo tồn phải chuyển từ quyết tâm chính trị sang hành động cụ thể, bền bỉ và dựa vào cộng đồng.

Áp lực chồng chất lên hệ sinh thái rừng – biển

Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm (xã đảo Tân Hiệp, Đà Nẵng) có tổng diện tích hơn 23.500ha, trong đó vùng biển chiếm gần 21.900ha. Đây là nơi cư trú của nhiều loài sinh vật biển quý hiếm như tôm hùm, ốc vú nàng, trai tai tượng, bàn mai, cá mú, cá hồng… Trên cạn, hơn 1.300ha rừng nguyên sinh bao bọc các sườn núi, giữ vai trò điều tiết dòng chảy, hạn chế xói mòn và bảo vệ đường bờ biển.

Thế nhưng, theo Ban Quản lý Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm (BQL), hệ sinh thái quý giá này đang phải đối diện với nhiều nguy cơ xâm hại. Hoạt động khai thác thủy sản mang tính hủy diệt, rác thải nhựa từ đất liền và trên biển, cùng sức ép từ phát triển du lịch đang tác động trực tiếp đến môi trường sinh thái.

Từ đầu năm 2025 đến nay, lực lượng chức năng đã tổ chức 138 lượt tuần tra cả đường thủy lẫn đường bộ, phát hiện hàng chục trường hợp vi phạm quy chế khu bảo tồn. Tuy nhiên, những con số này chưa phản ánh hết mức độ tổn thương của hệ sinh thái biển đảo.

Tại một hội thảo về bảo tồn biển tổ chức ở Hội An, PGS-TS Võ Sĩ Tuấn, Phó Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, nguyên Viện trưởng Viện Hải dương học Nha Trang, thẳng thắn nhìn nhận: “Nhiều khu bảo tồn biển ở Việt Nam hiện nay vẫn có hiệu quả thấp trong tái tạo nguồn lợi hải sản. Tình trạng khai thác cạn kiệt, kể cả ở vùng lõi, vẫn xảy ra. Nếu không thay đổi cách tiếp cận, khu bảo tồn sẽ khó hoàn thành sứ mệnh lâu dài”.

Theo ông Tuấn, bảo tồn biển không thể chỉ dừng lại ở việc cấm khai thác mà cần một kế hoạch tổng thể, kết hợp phục hồi sinh cảnh tự nhiên, tạo nguồn giống, phát triển nuôi biển công nghệ cao, thân thiện môi trường và gắn với du lịch sinh thái bền vững.

Hồi sinh rạn san hô, tái tạo sự sống cho biển

Trước những thách thức đó, Cù Lao Chàm đã lựa chọn con đường bảo tồn dựa trên khoa học và sự tham gia của cộng đồng. Một trong những dấu ấn rõ nét nhất là các chương trình phục hồi san hô và bảo tồn rùa biển.

Trong nhiều năm qua, BQL đã phối hợp với các đơn vị chuyên môn thực hiện 6 đợt chuyển vị 1.900 trứng rùa biển từ Vườn quốc gia Côn Đảo về ấp nở tại Cù Lao Chàm. Các đợt thả rùa con về biển đều ghi nhận tỷ lệ sống cao, góp phần khôi phục quần thể rùa biển tại khu vực.

Song song đó, dự án phục hồi san hô cứng có sự tham gia của cộng đồng đã xây dựng hai vườn ươm san hô với 30 khung nuôi, phục hồi hai vùng rạn san hô với tổng diện tích khoảng 4.000m². Những mảnh san hô khỏe mạnh được cắt ghép, nuôi trong điều kiện kiểm soát trước khi cấy xuống đáy biển tại các vị trí phù hợp về độ sâu, dòng chảy và chất lượng nước.

Theo cán bộ kỹ thuật, nếu điều kiện thuận lợi, san hô cành có thể phát triển từ 4–5cm mỗi năm. Nhờ quy trình chăm sóc nghiêm ngặt, tỷ lệ sống của san hô tại các vườn ươm đạt tới 95%. Đến nay, diện tích rạn san hô được phục hồi tại Cù Lao Chàm đã lên hơn 350ha, góp phần gia tăng độ phủ san hô cứng và san hô mềm, đồng thời mật độ cá tăng gần 1,5 lần so với trước.

Ông Nguyễn Văn Vũ – Phó Giám đốc Ban Quản lý Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm, cho biết: “Chúng tôi không chỉ tập trung phục hồi hệ sinh thái mà còn giám sát sản lượng khai thác của người dân, triển khai kế hoạch bảo tồn nguồn lợi hải sản tại các tiểu khu như Bãi Hương. Mục tiêu là bảo tồn gắn với sinh kế, để người dân thấy được lợi ích lâu dài”.

Theo ông Vũ, khi môi trường được phục hồi, nguồn lợi thủy sản tăng lên, người dân chính là đối tượng hưởng lợi trực tiếp và từ đó trở thành lực lượng bảo vệ hiệu quả nhất cho khu bảo tồn.

Cộng đồng – trụ cột của bảo tồn bền vững

Một điểm đặc biệt trong công tác bảo tồn tại Cù Lao Chàm là mô hình đồng quản lý, trong đó người dân địa phương trực tiếp tham gia bảo vệ và khai thác tài nguyên một cách có trách nhiệm. Từ năm 2011, Tiểu khu đồng quản lý bảo tồn biển thôn Bãi Hương đã trở thành mô hình đầu tiên của Việt Nam giao quyền quản lý tài nguyên cho cộng đồng.

Ông Trần Hoàn, người gắn bó nhiều năm với mô hình này, chia sẻ: “Khoảng hai chục năm trước, vì mưu sinh, người dân từng cho nổ mìn dưới biển, lấy san hô về nung vôi. Bây giờ thì khác. Khi giữ được rạn san hô, du khách mới đến, nguồn lợi thủy sản mới phục hồi. Khi bảo tồn mang lại lợi ích kinh tế, bà con sẽ tự giác tham gia”.

Không chỉ bảo tồn đa dạng sinh học, Cù Lao Chàm còn đi đầu trong giảm rác thải nhựa. Từ năm 2009, chiến dịch “Nói không với túi ni lông” được phát động và duy trì suốt hơn 16 năm. Sau đó là các chương trình “Nói không với ống hút nhựa”, “Nói không với đồ nhựa dùng một lần”.

Năm 2021, cơ sở phục hồi tài nguyên (MRF) tại thôn Bãi Ông đi vào hoạt động, biến rác thải sinh hoạt thành tài nguyên tái chế. Chị Lê Thị Thu Thủy, một hộ dân tham gia mô hình, cho biết: “Trước đây rác là gánh nặng, giờ trở thành thứ có thể tái sử dụng. Mỗi ngày, chúng tôi phân loại, ủ phân, tái chế để giảm ô nhiễm môi trường”.

Theo thống kê, mỗi năm, mô hình MRF đã thu gom và xử lý hơn 15 tấn rác thải sinh hoạt, trong đó xử lý tại chỗ hơn 7 tấn rác hữu cơ, góp phần giảm hơn 50% lượng rác phát sinh từ hộ gia đình. Tuy nhiên, mỗi ngày Cù Lao Chàm vẫn phát sinh khoảng 3–4 tấn rác, trong khi bãi rác Eo Gió đã quá tải.

Trước thực trạng này, chính quyền xã đảo Tân Hiệp triển khai cuộc vận động “Du khách và ngư dân mang rác thải về bờ”. Bà Phạm Thị Mỹ Hương – Chủ tịch UBND xã đảo Tân Hiệp (Cù Lao Chàm) cho biết: “Mục tiêu là giảm 70–80% lượng rác nhựa trên biển, đồng thời xây dựng hình ảnh Cù Lao Chàm là điểm đến du lịch xanh, thân thiện môi trường”.

Theo GS-TS Nguyễn Hoàng Trí, Chủ tịch Ủy ban Quốc gia Chương trình Con người và Sinh quyển Việt Nam, giá trị cốt lõi của Cù Lao Chàm nằm ở sự kết nối giữa thiên nhiên và văn hóa: “Một bên là khu bảo tồn biển, một bên là di sản văn hóa Hội An. Chính sự kết nối này tạo nên sức mạnh và hình ảnh đặc biệt được UNESCO công nhận”.

Giữ Cù Lao Chàm không chỉ là giữ một điểm đến du lịch, mà là gìn giữ mối quan hệ hài hòa giữa con người và tự nhiên. Khi rạn san hô được hồi sinh, rừng giữ được nước cho biển, người dân có sinh kế bền vững, thì bảo tồn không còn là gánh nặng, mà trở thành nền tảng cho phát triển lâu dài của vùng biển đảo này.

Nguồn: laodong.

Bài viết liên quan